Khi Anh
Dương
Quân đặt
bút làm bài thơ
đầu
tiên, Lãm Thúy chưa
đầy
10 tuổi, lẽ
nào kẻ
“ Hậu
sinh khả
… ố
“ này dám mạo
muội
bình luận
thơ
Anh . Chỉ
là cảm
bởi
hồn
thơ
trầm
lắng, ý thơ
chân thành, tình thơ
thắm
đượm mà góp ít
lời đồng điệu .
Thơ Dương Quân cũng giống
như tác giả, trang nghiêm, chững chạc. Đọc từng bài thơ, nếu chú ý
chúng ta sẽ thấy bao giờ cũng có một bố cục rõ ràng, ý thơ mạch lạc,
lời thơ chải chuốt.
Từ những bài thơ hoa niên viết
ở tuổi học trò mộng mơ, tuổi đôi mươi say đắm, đã sớm bộc lộ nét tài
hoa.
“ Hãy đổ lại
thuyền ơi, trên bến mộng
Cất chèo
khua tan vỡ cả bờ trăng”
Câu thơ thật đẹp. Hình ảnh đầy
ẩn dụ. Chèo khua không vỡ tan mặt nước mà tan vỡ ánh trăng trên bến
mộng –“ tan vỡ bờ trăng”
Và lời tiên tri sớm thốt lên
ở đầu thập niên 60.
“ Năm tháng
vẫn bơ vơ làm mệnh yểu
Những giòng
thơ đâu bán được cho đời”
( Về bến mộng trang 45)
Vẫn mãi hoài là một chân lý,
phải không anh Dương Quân ? Thơ chẳng bao giờ bán được cho đời,
nhưng nếu đời không có thơ thì tẻ nhạt biết bao nhiêu, vô vị biết
bao nhiêu.
Nói đến đây, Lãm Thúy chợt
nghĩ ra một điều thú vị: Thơ bán chẳng ai mua, nhưng thi sĩ mỗi ngày
một nhiều, người ta cứ tiếp tục in thơ, làm ra những CD thơ, để
rồi chỉ tặng nhau, có khi người được tặng còn chưa đọc hết, nghe
hết, vậy mà thi sĩ vẫn cam lòng. Đó chẳng phải là một điều rất đẹp ư
? Làm thơ chỉ vì yêu thơ, không vì danh, không vì lợi.
Trở lại với thơ Dương Quân,
Lãm Thúy muốn nhắc đến Hương Tình Cà Mau, một bài thơ viết năm 1967,
đăng trên báo Điện tín, đã được Kiên Giang Hà Huy Hà cho ngâm trên
ban Mây Tần ở đài phát thanh Sài Gòn., cũng bài thơ ấy đã đưa tên
tuổi Dương Quân vào hàng ngũ những nhà thơ hay của Miền Nam trong
thời chiến, một công trình sưu tập đồ sộ của nhóm Thư Quán Bản Thảo
do Trần Hoài Thư, Phạm Văn Nhàn và các bằng hữu sáng lập.
Hương Tình Cà Mau mang đậm đà
sắc thái miền Nam, vùng sông nước Tây Nam trù phú hiền hòa . Ở đó
sáng rực hình ảnh cô gái quê đôn hậu,thật thà mà duyên dáng,xinh
tươi đã làm rung động trái tim đa tình của chàng thi sĩ trẻ, một
Đốc Sự non choẹt, gói hành trang gọn ghẽ mang theo như một khách
phong sương.
“ Tôi đến An
Xuyên lòng khắc khoải
Những trưa
gà gáy gọi hoàng hôn
Những chiều
gió biển đùa mây xám
Gợi tiếng
sầu đông tận đáy hồn”
Trong tâm trạng cô đơn, xa
nhà, chàng thi sĩ trẻ ấy
“ Gặp em vào
buổi ban sơ ấy
Chung chuyến
đò qua ghé bến quê
Tôi chép câu
hò đem đến tặng
“ Cà Mau đi
dễ, khó quay về”
Mối tình đơn sơ, trong sáng,
bắt đầu từ một câu hò. Để rồi:
“ Em hẹn chèo
ghe ra họp chợ
Tôi chờ, trưa
nắng, bóng sông trôi
Cắm sào, che
nón, em cười nụ
Lòng ngỡ rằng
em nói vạn lời”
Thơ Dương Quân êm ái, nhẹ
nhàng mà mượt mà, sâu thẳm. Tả gia cảnh người thiếu nữ nghe cũng dễ
thương:
“ Nhà em có mảnh
vườn rau nhỏ
Uống nước trời
mưa, gạo giả tay
Tuổi mẹ như vừng
xôi nếp mọt
Cha già như trái
chín trên cây.”
Và cô gái quê đáng yêu ấy -
một đứa con hiếu thảo, chơn chất, nghèo nàn:
“ Hái rau đem bán
lo tiền chợ
Mót củi rừng
thưa, nhúm bếp cơm
Cha mẹ tuổi già,
con gái muộn
Tảo tần ngày
tháng đáp công ơn.”
Chỉ mấy đoạn thơ ngắn, đơn sơ,
Dương Quân đã vẽ ra trọn vẹn bức tranh sống động của gia đình cô gái
ấy: Nhà nghèo, con muộn nên còn trẻ mà cha mẹ đã già, vườn nhỏ trồng
rau, uống nước mưa, gạo giã tay, mót từng nhánh củi rừng thưa (ít
ỏi) về nấu cơm, hái rau chèo ghe ra chợ bán, một lòng hiếu thảo
phụng dưỡng song thân. Thế nên chàng thi sĩ nhà ta cũng góp phần
hiếu đạo:
“ Mua quà xin gửi
biếu song thân”
Đẹp chưa!
Chia tay nhau, người trở lại
Tân Thành thương bàn tay yếu chèo ghe về Tắc Thủ, nắng chang chang,
sợ má hồng đẫm mồ hôi sẽ võ vàng. Lòng yêu thương chân thành sâu sắc
biết bao:
“ Trở lại Tân Thành
thương Tắc Thủ
Đường dài, sông
rộng, nắng chang chang
Mái chèo có mỏi
bàn tay yếu ?
Má đẫm mồ hôi có
võ vàng ?”
Chính hình ảnh xinh đẹp của cô
gái quê đã khiến tác giả:
“ Từ đó tôi yêu
miền cuối Việt
Yêu đôi mắt
đẹp, cổ tay tròn
Áo bà ba trắng,
môi cười nụ
Yêu gái Cà Mau vẹn sắt son. »
Hương
Tình Cà Mau
quả là bài thơ tình đơn sơ mà đậm đà, thắm đượm.
Một bài thơ
khác của Dương Quân, viết trong thời gian tù đày cũng dễ khiến người
xúc động khi đọc :
Đó là
bài « Đêm Giao thừa
trong trại Cải tạo Quảng Ninh »
Đầu bài thơ,
tác giả giới thiệu hoàn cảnh hiện tại đã ba mùa xuân vì mất nước mà
bị giam cầm :
« Ở đây
có những buổi hoàng hôn
Mây
xám giăng giăng nặng trĩu buồn
Mỏi cánh chim trời
bay lặng lẽ
Xui lòng kẻ Bắc nhớ
người Nam
Hoàng hôn, mây xám, chim mỏi
cánh, người nhớ nhung mà bốn bề hiu quạnh, bốn hướng núi che,
tường cao đá dựng, ngồi trong song cửa sắt khoá chặt, nghe thời
gian nặng nề trôi, tóc xanh phai màu …
Ở đây bốn hướng núi
vòng quanh
Tường đá xây cao tám
lớp thành
Cửa đóng, ngồi trong
song sắt khoá
Nghe dần tóc bạc hết
đầu xanh”
Trong đêm Giao thừa, tâm hồn
nhà thơ tưởng tượng ra biết bao nhiêu cảnh ngộ bên ngoài song sắt,
xa biệt tận quê nhà :
“ Em hỡi! miền Nam em
có vui ?
Có đi chợ Tết mấy hôm
rồi ?
Có mua aó mới, quà
cho trẻ ?
Có thấy xuân sang
vắng một người ?”
Điệp khúc “ có phải
“như một câu hỏi dồn dập. Hỏi để rồi tự trả lời :
“ Có phải đêm nay
dưới mái nhà
Vợ hiền đang nhớ
đến người xa ?”
“ Có phải con thơ
đối bóng sầu
Ngập ngừng con
hỏi mẹ : “ Ba đâu?”
“ Có phải tàn đêm
giấc mỏi mòn
Giao thừa mẹ
thức cạnh bên con ?
Hỏi nhiều, hỏi đủ cả mọi thứ.
Đó chính là nỗi âu lo, sự quan tâm, lòng nhung nhớ. Để rồi tưởng
tượng ra bao thảm cảnh. Những câu thơ bắt đầu bằng từ ngữ “ Hay
là” là những giả dụ đau thương.:
Có phải thế này ? - Hay
chẳng phải
Hay là nhà đã dọn đi xa ?
Con đã thôi học chăn em nhỏ
Mẹ cũng lang thang gọi bán
nhà ?
Hay nhà đã bị tịch thu rồi
?
Mưa nắng bây giờ chẳng có
nơi
Hay là nấn ná đợi xuân đi
Năm hết, người xa chẳng trở
về
Hay là thất thểu tự ngàn
phương ?
Vợ yếu còn xa vạn dặm
trường
Hay là mẹ
đã bước sang ngang ?
Con trẻ bơ
vơ ở xó đường
Hay là cố
đợi, bước xuân qua
Sá kể gì
tan nát cửa nhà
Mẹ về bên
ngoại, con bên nội
Mầm non ăn
bám gốc cây già
Hay là đất
ẩm phủ khăn sô ?
Lạnh lẽo
tàn đông mấy nấm mồ
Con trẻ
cũng chôn vùi với mẹ
Cỏ gà héo
uá mọc lơ thơ
Từng ý thơ,
từng câu, từng chữ đều đau xót ngậm ngùi, vẽ nên bao cảnh tượng
thương tâm, nói lên trọn vẹn tâm tình cùng cực của người tù khốn khổ, đọa đày, nát tan lòng trong cảnh nước mất nhà tan ; không biết vợ
con sống chết thế nào, đoạ đày mấy nỗi, khổ nhục ra sao ?
Thôi cứ
nhủ lòng : Chớ ủ ê
Nhà tan,
nước mất, cảnh phân ly
Dân lành
bao triệu người đau khổ
Tôi cũng
như anh - chẳng hẹn về
Nhưng trong
cảnh cùng cực ấy, dù ngày về không hẹn, trong lòng người tù vẫn
khôn nguôi một niềm hy vọng :
Rồi mai
Xuân cũng đến mười phương .
Hy vọng để
chịu đựng, hy vọng để sồng còn, hy vọng để tiếp tục đợi chờ ngày
tái ngộ . Bài thơ buồn mà không ủy mỵ, có phải trong đêm giao thừa
tù ngục ấy Dương Quân đã thổi vào tâm hồn những người bạn tù một nỗi
tin yêu, một sức mạnh phi thường của nghị lực ?
Lãm Thúy sẽ
không ngạc nhiên nếu như có ai đó nói rằng vào năm 1977, trong trại
tù Quảng Ninh, khi bài thơ ấy ra đời, Anh DQ đã là thần tượng sùng
kính của bao nhiêu bạn tù ..
Thử hỏi Xuân
xa nhà, vợ con biệt vô âm tín, thân bị giam cầm trong đoạ đày khổ
nhục, tương lai mịt mù vô vọng, đọc một bài thơ như vậy, nói như
tự lòng mình nói ra : Thấm thía, ngậm ngùi, đắng cay,... Làm sao
giữ lệ đừng rơi ?
( Có một
điều nhỏ LT muốn hỏi : Sao không đổi một từ ngữ trong tên bài thơ ấy
là « Tù « thay cho « Cải tạo « ? Nên chăng ? )
Một bài
thơ khác nữa của DQ cũng dễ khiến người rơi lệ . Đó là bài
Thư Cuối Cùng,
viết năm 2006 khi nghe tin
người chị thân yêu qua đời .Lời thơ chân thành đau xót, cảnh vật
cũng u sầu, tối tăm :
Hôm nay mây
xám sao nhiều qúa
Giăng phủ
không gian, cả đất trời
Người đến,
báo tin buồn vội vã
: Quê nhà -
Chị đã trút tàn hơi !
Hình ảnh người
chị được vẽ lên chỉ bằng vài nét đơn sơ mà cảm động, cách diễn đạt
bóng bảy mà chân tình :
Chị vào
bệnh viện hôm tuần trước
Tiều tụy
thân gầy, khóe mắt sâu
Khi
rước Chị về ...Khăn trắng phủ ...
Thôi
rồi ! Dáng liễu Chị còn đâu ?
Người chị đáng
thương ấy vẫn một lòng quan tâm đến đứa em xa xứ, thương cho cảnh
cô đơn, lạc loài, thất chí, lưu vong .
Từ nỗi đớn
đau vì mất mát, Dương Quân đã hồi tưởng lại những kỷ niệm đẹp giữa
hai Chị em . Kỷ niệm nào cũng êm đềm, tràn ngập mến thương . Cụm từ
trùng điệp « Nhớ xưa « mang theo bao nỗi ngậm ngùi :
Nhớ xưa từ
thuở còn thơ ấu
Em vẫn
giành ăn, Chị vẫn nhường
Em mãi rong
chơi làm Chị giận
Chị hiền,
đâu nỡ trách em luôn
Nhớ xưa Chị
lớn thành cô gái
Mắt phượng, môi son ... Chị lấy chồng
Em khóc –
Đi tìm theo xác pháo
Dấu hài,
chân Chị dẫm rêu phong
Nhớ xưa cứ
mỗi lần em bệnh
Chị vội về
thăm với gói quà
Sờ trán,
xem chừng em sốt lắm
Em vờ bệnh
mãi, Chị đừng xa
Từng ý, từng
lời, bộc lộ một tình cảm thiết tha, chân thành, thắm đượm . Người
chị đầy lòng hy sinh, nhường nhịn, hiền hoà . Hỏi sao lòng đứa em
không nhớ tiếc ?
Lời hứa thốt
ra như một lời thề nguyền :
Thế nào em
cũng về quê cũ
Thăm xứ
Đồng Nai, nhớ quặn lòng
Thăm chợ
Long Thành, cây trái ngọt
Chỗ Chị
ngồi bán bưởi – Còn không ?
Thế nào em
cũng về thăm Chị
Nấm mộ vườn
sau - Chỗ Chị nằm
Thắp nén
trầm hương- em khấn nguyện
Ngậm ngùi :
Vĩnh biệt Chị ! Ngàn năm !
Ôi ! Xiết bao
thương cảm, xiết bao chua xót, xiết bao đau lòng ...
Ba bài thơ
tiêu biểu với ba hoàn cảnh đặc thù . Thật khó nói hết những gì độc
đáo, những gì tuyệt diệu, những gì sâu sắc,...
Với ý hướng
khiêm nhường : Viết lên vài cảm nghĩ đơn sơ, bày tỏ chút lòng
ngưỡng mộ và rất nhiều nỗi cảm thông – Cùng một lứa bên trời lận
đận – Chứ Lãm Thúy chẳng dám cao vọng bình thơ của một thi sĩ mà
tuổi đời, kiến thức, tài năng, học vị, chức phận,... tất cả đều
đáng bậc thầy đối với mình .
Tuy nhiên,
khi bắt tay vào việc mới thấy hết cái khó, bởi câu thơ nào cũng hay, lời nào cũng ý nghĩa, trích dẫn chỉ là tượng trưng . Thôi thì Lãm
Thúy ghi ở đây một lời nhắn gửi : Hỡi ai có lòng yêu thơ, hãy đọc
lại thơ Dương Quân, vì những nét đan thanh, những tình cảm
động mà LT nói ra chỉ là những điều rất nhỏ trong muôn vàn giá trị
của thơ Anh . Hãy trãi lòng mình ra đề đi vào cõi thơ ấy, sẽ thấy
ngập tràn hương sắc của hoa trái miền Nam, sông nước hữu tình,...
LÃM THÚY