Cách đây hơn 3 thập kỷ, giữa lúc nhân dân Việt
Nam đang tập trung nỗ lực vào cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước; lại cũng là lúc một số nước
lớn đang mặc cả và thoả hiệp với nhau để cản trở
sự nghiệp thống nhất đất nước của dân tộc Việt
Nam, th́ ngày 19/01/1974, quân đội Trung Quốc đă
tấn chiếm quần đảo Hoàng Sa, lúc này đang do
chính quyền Sài G̣n quản lư.
Hơn ba thập kỷ qua, trong bối cảnh quan hệ
Việt-Trung có những bước thăng trầm, Việt
Nam vẫn luôn khẳng định Hoàng Sa cùng với
Trường Sa là một bộ phận lănh thổ thiêng
liêng của ḿnh. Bởi v́ chủ quyền ấy đă được
minh chứng bằng thời gian và lịch sử của
nhiều thế kỷ những cư dân và Nhà nước Việt
Nam đă quản lư và khai thác vùng lănh thổ
trên biển Đông này.
Sự xác lập chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa
(cũng như với Trường Sa) được minh chứng
không chỉ bằng những tài liệu do người nước
ngoài ghi chép như sách Hải ngoại kư sự của
Thích Đại Sán viết năm 1696, hay của nhiều
tác giả Tây phương như Le Poivre(1749),
J,Chaigneau (1816-1819), Taberd (1833),
Gutzlaff (1849)…; cũng như những di sản văn
hoá vật thể và phi vật thể liên quan đến
hoạt động của các Đội Hoàng Sa xưa ở cửa
biển Sa kỳ và đảo Lư Sơn (Cù lao Ré), mà c̣n
được ghi lại trên nhiều thư tịch, trong đó
có những văn bản mang tính chất Nhà nước của
Việt Nam.
Cho đến nay chúng ta vẫn có bằng chứng đầy
đủ về chủ quyền của nhà nước Đại Việt (gồm
cả Đàng Ngoài của các chúa Trịnh và Đàng
Trong của các chúa Nguyễn đều tôn pḥ nhà
Lê) qua Thiên Nam Tứ chí Lộ Đồ Thư trong
Hồng Đức Bản Đồ hay Toản Tập An Nam Lộ trong
sách Thiên Hạ Bản Đồ (của Đỗ Bá Công soạn
năm Chính Hoà thứ 7-1686) và sách Phủ Biên
Tạp Lục của bác học Lê Quư Đôn (1776)…
Tấm bản đồ trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ được
vẽ theo bút pháp đương thời với lời chú rất
rơ ràng: “Giữa biển có một dải cát dài gọi
là Băi Cát Vàng (Hoàng Sa) dài tới 400 dặm…
Họ Nguyễn mỗi năm và cuối mùa Đông đưa 18
chiếc thuyền đến đấy lấy hàng hoá, được phần
nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn…”
C̣n bản đồ vẽ trong Toàn Tập An Nam Lộ th́
ghi chú rất rơ địa danh Băi Cát Vàng trên
biển khơi phía trước của những địa danh trên
đất liền như các cửa biển Đại Chiêm, Sa Kỳ,
Mỹ Á, phủ Quảng Nghĩa và các huyện B́nh Sơn,
Chương Nghĩa, Mộ Hoa.
Với sách Phủ Biên Tạp Lục của nhà bác học Lê
Quư Đôn (1776), Hoàng Sa c̣n được mô tả kỹ
hơn. Năm 1775, Lê Quư Đôn được Chúa Trịnh cử
vào vùng đất Phú Xuân lănh chức Hiệp trấn để
lo việc b́nh định hai trấn mới thu hồi được
từ Chúa Nguyễn là Thuận Hoá và Quảng Nam.
Sách dành nhiều trang để mô tả về các “Đội
Hoàng Sa” và “Bắc Hải” của chúa Nguyễn tổ
chức cho dân vùng Tư Chính, Quảng Ngăi tổ
chức thường kỳ việc vượt biển đến Hoàng Sa
để thu luợm các sản vật đem về đất liền.
Những tư liệu thu thập tại địa phương xă An
Vĩnh (Cù lao Ré) c̣n nói tới “Đội Quế hương”
cũng là một h́nh thức tổ chức do dân lập xin
phép nhà nước được ra khai thác ở Hoàng Sa.
Qua thời Nguyễn, kể từ đầu thế kỷ XIX, trong
điều kiện nước Việt Nam (dưới triều Gia
Long) và Đại Nam (kể từ triều Minh Mạng) đă
chấm dứt t́nh trạng cát cứ và phân tranh,
thống nhất quốc gia th́ việc quản lư lănh
thổ được ghi chép đầy đủ và lưu trữ tốt hơn.
Tấm bản đồ được lập thời Minh Mạng Đại Nam
Nhất Thống Toàn Đồ vẽ rất rơ cả một dải lănh
thổ gồm những đảo trên biển Đông được ghi
chú là “Vạn lư Trường Sa” (tên gọi chung cả
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo quan
niệm đương thời).
Hai bộ sách địa lư quan trọng của triều
Nguyễn là phần Dư Địa Chí trong Lịch Triều
Hiến Chương Loại Chí (1821) và sách Hoàng
Việt Địa Dư Chí (1833) đều đề cập tới Hoàng
Sa trong phần viết về phủ Tư Nghĩa và đều
chép lại những nội dung của các tài liệu
trước, trong đó có hoạt động của các “Đội
Hoàng Sa”.
Bộ chính sử Đại Nam Thực Lục do Quốc sử quán
triều Nguyễn biên soạn liên tục cho đến thập
kỷ đầu của thế kỷ XX đều nhiều lần ghi lại
các sự kiện liên quan đến Hoàng Sa và Trường
Sa như một bộ phận của lănh thổ quốc gia.
Ngay trong phần Tiền Biên chép về các tiên
triều, bộ biên niên sử này cũng nêu lại
những sự kiện từ thời các Chúa Nguyễn liên
quan đến các quần đảo này.
Một thống kê cho thấy trên bộ sử này, trong
phần chính biên ghi chép cho đến thời điểm
in khắc đă có 11 đoạn viết về những sự kiện
liên quan đến hai quần đảo này. Nội dung cụ
thể như là việc nhà nước điều cho thuỷ quân
và Đội Hoàng Sa ra đảo để “xem xét và đo đạc
thuỷ tŕnh” (quyển 50,52…đời Gia Long); cử
người ra Hoàng Sa “dựng miếu, lập bia, trồng
cây”, “vẽ bản đồ về h́nh thế”, “cắm bài gỗ
dựng dấu mốc chủ quyền” (quyển số 104, 122,
154, 165 đời Minh Mạng).
Ngoài ra c̣n các bộ sách Khâm Định Đại Nam
Hội Điển Sự Lệ(1851) cũng ghi rơ những công
việc nhà nước Đại Nam đă thực thi trên lănh
thổ Hoàng Sa. Và đặc biệt quư giá là những
châu bản của các vị vua triều Nguyễn (tức là
có thủ bút của nhà vua) có liên quan đến
Hoàng Sa. Giá trị của những văn bản gốc này
là sự thể hiện quyền lực của người đứng đầu
quốc gia đối với vùng lănh thổ này. Ví như,
phê vào phúc tấu của bộ Công ngày 12-2 năm
Minh Mạng thứ 17 (1836), nhà vua viết :”Mỗi
thuyền văng thám Hoàng Sa phải đem theo 10
tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4,5 thước (ta),
rộng 5 tấc, khắc sâu hàng chữ “Năm Bính Thân
Minh Mạng thứ 17, họ tên cai đội thuỷ quân
phụng mệnh đi đo đạc, cắm mốc ở Hoàng Sa để
lưu dấu”; hay các châu phê về việc thưởng
phạt người có công tội khi thực thi trách
nhiệm ở Hoàng Sa, đạc vẽ bản đồ v.v…
Măi đến năm 1909, lần đầu tiên Trung Quốc
mới đề cập đến chủ quyền của ḿnh đối với
khu vực lănh thổ này. Điều đó cho thấy,
trong suốt 3 thế kỷ trước đó (XVII-XIX), các
tài liệu thư tịch của Nhà nước Việt Nam kế
thừa nhau đă liên tục thể hiện chủ quyền
lịch sử và thực tiễn quản lư đối với quần
đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa.
Điều đáng nói là, vào thời điểm này, giữa
lúc hai nước Việt-Trung đă xác lập được
những quan hệ hữu nghị, hợp tác trên những
nguyên tắc của "16 chữ vàng” do chính các
nhà lănh đạo Trung Quốc đưa ra th́ việc Quốc
vụ viện Trung Quốc thành lập cái gọi là
“thành phố cấp huyện Tam Sa” thuộc tỉnh Hải
Nam bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa của Việt Nam đáng để chúng ta phải
nhắc lại những bằng chứng và bài học lịch
sử!
Dương Trung Quốc